Phần 1: Dấu hiệu cá koi bị nấm mang và cách điều trị đúng chuẩn trại

Dấu hiệu cá koi bị nấm mang

Các dấu hiệu cá koi bị nấm mang cần nhận biết sớm biểu hiện để có cách trị nấm mang cá Koi hiệu quả, tránh bị tưa mang nặng sẽ khó cứu và dễ chết cá hơn.

Nấm mang là bệnh gì?

Nấm mang là bệnh nguy hiểm gây chết cá hàng loạt và lây lan rất nhanh trong môi trường ao hồ. Bệnh nấm mang là bệnh do virus Herpesviridae gây ra, các vết đốm đỏ và trắng ở mang cá, khi cá bị nấm mang có hiện tượng xuất huyết ở mang, mắt cá bị thụt sâu. Bệnh nấm mang là bệnh gây chết cá hàng loạt, tỉ lệ lây rất nhanh và cao.

Bệnh nấm mang cá Koi tiếng Anh là Cyprinid herpesvirus 3 (được biết đến là CyHV-3) hay còn được gọi tên viết tắt là KHV.

Theo Wikipedia tiếng Anh miêu tả bệnh nấm mang ở cá KoiTrường hợp KHV đầu tiên được báo cáo vào năm 1998, nhưng mãi đến năm 1999 mới được xác nhận. KHV là một loại vi rút được phát hiện dựa trên DNA. Sau khi phát hiện, nó được xác định là một chủng Herpesvirus. Giống như các chủng khác, KHV tồn tại với cá bị nhiễm bệnh trong suốt cuộc đời của chúng, khiến cá đã hồi phục và phơi nhiễm có khả năng mang vi-rút. Cá Koi bị nhiễm KHV có thể chết trong vòng 24–48 giờ đầu tiên sau khi tiếp xúc. KHV được liệt vào danh sách bệnh không ngoại lai của EU, do đó được Phòng thí nghiệm Tham khảo về Bệnh Cá của Cộng đồng Châu Âu theo dõi chặt chẽ.
Các triệu chứng của KHV bao gồm:

  • Mang lốm đốm
  • Xuất hiện các mảng màu đỏ và trắng trên mang
  • Chảy máu mang
  • Mắt trũng
  • Các mảng nhợt nhạt Mụn nước.

Có thể nói bệnh nấm mang của cá Koi có thể xuất hiện hầu hết thời điểm trong năm, thời gian bùng phát mạnh nhất chính là bắt đầu vào mùa Xuân và mùa hè – những thời điểm thay đổi thời tiết mạnh sẽ khiến bệnh bùng phát mạnh, nếu không có phương pháp phòng bệnh và phát hiện bệnh kịp thời thì thiệt hại sẽ rất lớn.

Dấu hiệu cá koi bị nấm mang

 

Dấu hiệu cá koi bị nấm mang
Những dấu hiệu cá koi bị nấm mang khi khám cận lâm sàng dễ nhận biết

Giai đoạn khởi phát bệnh: Giai đoạn đầu của bệnh nấm mang ở cá chép sẽ khó phát hiện được do triệu chứng không rõ ràng và ở thể nhẹ, cá chỉ biếng ăn, lờ đờ, mang thở phập phồng hơn bình thường, cá vẫn ăn cùng đàn nhưng thường tụ tại thác hoặc sủi oxy.

Những biểu hiện cá koi bị nấm mang nặng:

Với những người có nhiều kinh nghiệm chơi và bán cá Koi thì có thể sớm nhận biết đuọc những dấu diệu con cá bị nhiễm bệnh nấm mang. Bạn cũng có thể quan sát con cá và nhận biết như sau:

  • Cá tách đàn, bỏ ăn hoặc bỏ ăn hàng loạt.
  • Cá bơi lờ đờ gần mặt nước, thác hoạc sủi oxy (nơi có nguồn oxy dồi dào), cá dễ bị shock do ngạt và cá có biểu hiện bơi không định hướng
  • Mang cá xuất hện vết đỏ lốm đốm, tơ mang tưa trắng, xuất huyết mang.
  • Mắt cá trũng sâu, da xuất hiện mảng màu xám bạc, da khô nhớt và có biểu hiện phồng rộp.

Nguyên nhân & nguồn gốc bệnh nấm mang cá Koi

Theo thông tin hướng dẫn của CHICUCCNVTHYHCM, nguyên nhân

Tác nhân sinh bệnh học là koi herpesvirus (KHV) thuộc họ Herpesviridae (18, 45) mặc dù virus này cũng có tên là virus gây viên thận kẽ và hoại tử mang thở của cá chép (carp interstitial nephritis and gill necrosis virus – CNGV) (20, 30). Waltzek và cộng sự (42) đƣa ra bằng chứng để giúp phân loại virus này là herpesvirus, và đặt tên là cyprinid herpesvirus 3 (CyHV-3), kèm theo danh pháp của các cyprinid herpesvirus khác: CyHP-1 (virus đậu cá chép [carp pox virus], virus ung thƣ mụn sần ở cá [fish papilloma virus]) và CyHV-2 (virus gây hoại tử hệ thống tạo huyết của cá vàng [goldfish haematopoietic necrosis]).

Các phân tích kết chuỗi của phần gen di truyền đã cho thấy rằng KHV có liên quan gần với CyHV-1 và  CyHV-2, và có liên quan xa với virus cá da trơn nƣớc ngọt (Ictalurid herpesvirus: IvHV-1) và Ranid (ếch) herpesvirus (RaHV-1) (42). Gần đây, Aoki và cộng sự (2) đã mô tả đầy đủ kết chuỗi gen di truyền của KHV và nhận diện 156 đơn vị gen mã hóa các protein. Họ chỉ ra rằng 15 gen của KHV có tƣơng đồng với các gen trong IcHV-1, xác nhận đề xuất xếp KHV vào họ Herpesviridae. Các ƣớc tính gần đây về gen di truyền của KHV biến thiên từ ít nhất 150 kbp (14) đến 270 kbp (20), nhƣng kích thƣớc này gần đây đƣợc xác nhận là 295 kbp (2, 42). Các ƣớc tính về kích thƣớc của hạt virus (virion) cũng có khác nhau. Vỏ bao hạt nhân (nucleocapsid) của virus đem nhuộm âm (negative-stained) đã đƣợc đo lƣờng là có đƣờng kính 103 – 112 nm, đƣợc bao quanh bởi vỏ bao ngoài (envelope) (18, 20, 40). Vỏ bao hạt nhân của virus đã đƣợc cắt lát mỏng (thin-sectioned) đã đo đƣợc đƣờng kính là 78–84, 80–110 và 110– 120 nm (5, 6, 18, 28).

So sánh các di truyền của các dòng KHV phân lập đƣợc từ các vùng địa lý khác nhau, bằng các phân tích giới hạn enzyme (restriction enzyme analysis) (12, 16) hay bằng các phân tích kết chuỗi nucleotide (32) đã cho thấy di truyền của các dòng KHV này thực tế là giống nhau. Giống vậy, các polypeptides của các dòng KHV phân lập đƣợc từ các vùng địa lý khác nhau đều tƣơng tự nhau, mặc dù một dòng phân lập đƣợc từ Israel có thêm hai polypeptide (11, 12). Aoki và cộng sự (2) đã so sánh đầy đủ kết chuỗi di truyền của ba dòng KHV phân lập đƣợc từ Nhật Bản, Israel và Mỹ. Các di truyền này cho thấy rất giống nhau ở mức độ kết chuỗi, với dòng của Israel và Mỹ thì gần nhau hơn so với dòng của Nhật Bản. Ba dòng này đƣợc giải thích là đã đƣợc sinh ra từ hai nhánh (lineage) là nhánh Nhật Bản và nhánh Israel-Mỹ, vốn có nguồn gốc chung.

Các nghiên cứu ở Israel cho thấy rằng KHV vẫn còn hoạt tính trong nƣớc trong ít nhất 4 giờ, nhƣng không còn hoạt tính đến 24 giờ, ở nhiệt độ nƣớc là 23 – 25oC (28). Các nghiên cứu ở Nhật Bản cho thấy có giảm nhiều về hiệu giá gây nhiễm của KHV trong vòng 3 ngày trong các mẫu nƣớc môi trƣờng và bùn lắng (sediment) ở 15oC. Tuy nhiên, khả năng gây nhiễm vẫn còn đến > 7 ngày khi KHV đƣợc để trong các mẫu nƣớc tƣơng tự đã đƣợc xử lý tiệt trùng bằng hấp autoclave hay qua lọc (35). Nghiên cứu này cũng tr nh bày bằng chứng đối với sự hiện diện của các dòng vi khuẩn trong nƣớc mà có tác động kháng virus. Gần đây hơn đã có báo cáo phát hiện thấy DNA của KHV trong các mẫu nƣớc sông ở nhiệt độ 9 – 11oC, vào 4 tháng trƣớc khi xảy ra một ổ dịch KHVD trong một con sông (17). Tuy nhiên, sự tồn tại của virus có thể đƣợc trợ giúp bởi sự hiện diện của các động vật làm trung gian truyền lây và việc phát hiện DNA có thể không luôn là chỉ thị về sự hiện diện của virus gây bệnh.

Vòng đời của virus gây nấm mang cá Koi

Các báo cáo điều tra gần đây cho thấy rằng mang thở là đƣờng vào chủ yếu của virus trong cá chép (9, 13, 24, 29). Tuy nhiên, một thực nghiệm gần đây hơn đã chứng minh da phủ ngoài các vây của cá chép là đƣờng vào chính của KHV (7). Sau khi xâm nhập, virus phân tán từ mang thở và da đến các nội tạng, và đã phát hiện thấy số lƣợng nhiều DNA của KHV trong các mô thận, lách, gan và ruột (9, 29). Sự lắp ghép và tạo hình của KHV trong các tế bào bị nhiễm đã đƣợc mô tả là giống nhƣ ở các herpesvirus khác.

Một kiểm tra siêu cấu trúc của cá chép đƣợc gây nhiễm thực nghiệm đã cho ra bằng chứng về các vỏ bao hạt nhân chƣa hoàn chỉnh lẫn hoàn chỉnh đƣợc lắp ghép trong nhân và có sự phát triển tiếp của hạt virus trong bào tƣơng của tế bào bị nhiễm (24). Sự tăng tiết chất nhày là bằng chứng rõ rệt trong các giai đoạn sớm của nhiễm KHV, và đã phát hiện thấy DNA của KHV với mức độ cao trong các mẫu chất nhày của cá chép đƣợc gây nhiễm thực nghiệm (13). ây là bằng chứng thêm vào cho tác động liên quan đến da trong sinh bệnh học của virus và da là vị trí quan trọng trong thải tiết virus. Sự thải tiết virus qua đƣờng niệu (urine) và phân cũng có thể là các cơ chế quan trọng cho thải tiết virus. Các hàm lƣợng ADN cao của KHV đã phát hiện đƣợc trong các mô của ruột và thận, và virus gây nhiễm đã phát hiện đƣợc trong các mẫu phân thu thập từ cá chép đã bị nhiễm (9, 13).

Bệnh nấm mang cá koi có lây không?

Nấm mang ở cá chép nói chugn và nấm mang ở cá Koi là bệnh có tốc độ lây nhiễm rất nhanh.

Các cơ chế truyền lây

Kiểu truyền lây của KHV là truyền lây ngang, nhƣng truyền lây “có liên quan đến trứng” (thƣờng gọi là truyền lây “dọc”) th hiện nay không thể bỏ qua. Truyền lây ngang có thể là trực tiếp (cá đến cá) hay qua trung gian, nƣớc là trung gian vô sinh chính. Các nguồn tàng trữ của KHVD là cá bị nhiễm thể hiện lâm sàng và các mang trùng ẩn chứa virus trong cá nuôi nhốt, chăn thả hay hoang dã. Virus có độc lực đƣợc thải tiết qua phân, đƣờng niệu, mang thở và chất nhày của da. Dƣới các điều kiện thực nghiệm, virus gây nhiễm đƣợc đã đƣợc thải tiết liên tục trong thời gian dài ở cá chép thƣơng bị nhiễm, trong nhiệt độ 16oC, thời gian thải tiết ra virus ngắn hơn ở 23oC hay 28oC (44). Tiến trình bệnh có thể là nhanh chóng, đặc biệt ở các nhiệt độ tối ƣu (23 – 25oC), nhƣng chậm hơn ở nhiệt độ dƣới 23oC. Bệnh có thể xuất hiện trong 3 ngày sau khi cho cá khỏe mạnh vào một hồ có chứa cá bị bệnh (41), nhƣng các điều tra khác đã báo cáo là 8 – 21 ngày mới phát hiện thấy bệnh lộ ra ở cá đƣa vào (5, 18).

Tỷ lệ mắc bệnh của các quần thể bị nhiễm có thể là 100%, và tỷ lệ tử vong 70 – 80% (5, 41), nhƣng tỷ lệ tử vong có thể cao đến 90 hay 100% (5, 40). Nhiễm phụ và vấy nhiễm vi khuẩn
và/hoặc nhiễm ký sinh thƣờng thấy ở cá chép bị bệnh và có thể ảnh hƣởng đến tỷ lệ tử vong và thể hiện ra các dấu hiệu (16).

Phần 2: Cách chữa bệnh nấm mang cá koi

 

  • Thuốc đặc trị nấm mang cá
  • Cá bị nấm mang
  • Trị nấm mang cá vàng
  • Thuốc trị nấm mang cá Koi
  • Cá Koi thở 1 bên mang
  • Trị nấm cho cá bằng muối
  • Trị nấm cho cá bằng thuốc tây
  • Cá chép bị nấm đuôi
  • Cá Koi bị nấm vây
  • Thuốc trị nấm cho cá Koi
  • Cá Koi bị nấm trắng

Leave a Reply

Back To Top